Dửng dưng

Giữa nắng trưa gay gắt
Xe hỏng, lê vỉa hè
Ngán phượng dường hun lửa
Giận inh ỏi tiếng ve.

Ngang qua trường trung học
Buổi tổng kết đang tàn
Thầy trò cùng chụp ảnh
Tiếng nói cười râm ran

Lòng lặng. Dường sống lại
Thời cuối cấp năm nào
Bao mộng mơ ngốc nghếch
Bao luyến tiếc nghẹn ngào

Xưa mình từng hứa hẹn
Sẽ mãi chẳng quên sao?
Bạn bè giờ xa lắc
Giá gặp nhau ngượng chào.

Mối tình hồn nhiên cũ
Giờ kể tựa chuyện vui
Thấy hình em trong ảnh
Lật qua, chẳng bùi ngùi.

Và những tà áo trắng
Trưa nay rộn rã cười
Có ai chiều ngồi khóc
Trước mong manh cuộc đời?

……….
Miên man hoài. Sực tỉnh
Mình đứng ngóng chờ ai?
Lòng thản nhiên, bước tiếp
Đừng ngoái, đường còn dài.

Cánh phượng nào vương lại
Kỷ niệm nào chưa phai…

30 mai 2011

Advertisements

[Cổ tích hiện đại] Nàng công chúa đứng trên đôi chân mình

(Phỏng dịch từ ‘The Princess who stood on her own two feet‘, by Jeanne Desy)

1a22bd70c6a27263a0fb436b8a6c7ef7

Ngày xửa ngày xưa, ở một đảo quốc nọ có một nàng công chúa duyên dáng, xinh đẹp và thông minh, với dáng vóc cao nhã và khuôn mặt rạng rỡ như bông hướng dương kiêu hãnh. Công chúa thông thạo bất cứ điều gì mà các gia sư hoàng gia có để dạy nàng, và khiến mọi người mến phục bởi trí tuệ và vẻ ân cần của mình. Điều duy nhất mà công chúa thiếu là tình yêu, bởi lẽ trong khắp cả vương quốc không có ai xứng với nàng.

Vì thế, công chúa ngày càng thấy buồn chán và cô đơn. Một ngày nọ, một pháp sư từ phương xa đến mang cho nàng một món quà. Đó là một sinh vật lạ lùng với bộ lông mượt ánh sắc vàng và dáng đi thanh thoát. “Đây là loài vật gì vậy?” Công chúa hỏi. “Người ta gọi nó là một con chó,” vị pháp sư đáp, “nó thuộc nòi chó săn Afghan“.

Ở đảo quốc đó người ta chưa đừng thấy chó bao giờ, cho nên công chúa lấy làm thích  thú với người bạn đồng hành mới. Nó theo công chúa tới mọi nơi, từ những buổi cưỡi ngựa đi dạo lúc ban mai, những khi công chúa ở trong cung điện và đêm xuống ngủ ngay dưới chân giường nàng. Khi công chúa nói chuyện với chú chó, nó ngước nhìn nàng với vẻ chăm chú đến nỗi công chúa cảm giác như nó có thể hiểu từng lời của nàng.

Dù sao, chú chó không phải là một hoàng tử, mà công chúa thì lại mong ngóng được kết hôn. Cho nên công chúa thường ngồi bên cửa sổ, thở dài và hy vọng một hoàng tử đẹp trai sẽ tới. Vào một ngày mùa hè quả nhiên một sứ giả mang tin tới hoàng cung rằng một hoàng tử từ vương quốc láng giềng muốn tới để thảo luận kết thân giữa hai vương tộc thông qua đính ước với công chúa. Tin đồn truyền rằng hoàng tử rất bảnh trai và đường bệ, khiến trái tim công chúa nhảy từng nhịp hy vọng.

Khi hoàng tử bước vào đại lễ đường đang thiết tiệc nghinh đón và dõi ánh mắt đắm đuối về phía công chúa, nàng chút nữa ngất đi vì sung sướng. Trái với vẻ tự nhiên mọi khi, nàng ngồi nhút nhát trong suốt bữa tiệc trong lúc lễ đính ước của họ được loan báo và chúc mừng với âm nhạc và yến tiệc. Công chúa còn để cho hoàng tử nắm tay dưới bàn, điều mẫu hậu của nàng nhận thấy với vẻ bằng lòng. Suốt khoảng thời gian đó chú chó nằm yên lặng dưới chân nàng, quan sát.

Cuối cùng, âm nhạc sôi động ngừng lại nhường chỗ cho điệu waltz, và đây là lúc cho cặp đôi hoàng gia bước ra khai mạc cuộc khiêu vũ. Nhưng khi công chúa đứng dậy, một bóng tối dài đổ trên khuôn mặt của hoàng tử và chàng bỏ ra khỏi lễ đường với vẻ hậm hực.

Tối đó, công chúa ngẩn ngơ cả giờ đứng trước gương trong phòng, tự hỏi hoàng tử đã nhìn thấy điều gì khiến chàng sợ hãi như vậy.

Nếu ngươi biết nói, hãy nói ta nghe,” công chúa nói với chú chó. “Ta đã làm gì sai?

Nàng không làm gì sai cả,” chú chó trả lời (dĩ nhiên, là chó của một pháp sư, chú chó biết nói, hiềm trước giờ không có ai hỏi nó cả). “Vấn đề là chiều cao của nàng.

Nhưng ta là một công chúa, ta phải cao mà!” Nàng nức nở.

Chú chó từ tốn giải thích cho nàng rằng hầu hết đàn ông đều muốn cao hơn vợ mình.

Tại sao chứ?“-Công chúa hỏi.

Tôi không biết“, chú chó đáp lại. “Dường như chẳng có lý do hợp lý nào cả.

Tất cả tại đôi chân mình“, công chúa lẩm bẩm. “Khi chúng ta ngồi ở bàn tiệc, mọi thứ đều tốt đẹp cả.

Chú chó âm thầm không đồng tình, nó thấy đôi chân nàng rất đẹp, nhưng cũng không nói gì thêm.

Công chúa vạch ra một kế hoạch. Sứ giả được gửi tới hoàng tử cầu xin một cơ hội nữa. Hoàng hậu nhắn gửi lời tán dương tới vẻ hào hoa của hoàng tử, trong khi quốc vương nhắc khéo tới khoản nợ do thua bạc của hoàng tử mà ông sẵn sàng giúp trả nếu chàng chịu chấp thuận hôn ước.

Hoàng tử quay lại, và lần này công chúa nằm trên giường để đón tiếp chàng. Hai người có một buổi trò chuyện ngọt ngào lãng mạn, với hoàng tử nắm tay nàng suốt buổi. Thực sự chàng thấy nàng rất hấp dẫn khi công chúa nằm hoặc ngồi.

Nào, hãy cùng ta cưỡi ngựa đi dạo tận hưởng không khí trong lành,”  sau hồi lâu trò chuyện, hoàng tử nói. Mặc dù yêu thích cưỡi ngựa và có tài cưỡi ngựa cự phách không ai trong vùng sánh nổi, công chúa khẽ khàng từ chối.

Thiếp e là thiếp không thể cùng chàng cưỡi ngựa. Chàng thấy đấy, thiếp mới bị liệt, không còn đi được nữa“. Chàng hoàng tử không lấy làm buồn, trái lại không giấu vẻ hài lòng. Chàng đặt công chúa ngồi chiếc ghế bành bên cửa sổ, tiếp tục nói không ngớt chuyện về nhiều chủ đề khác nhau, nhưng nhiều nhất vẫn là về những chiến tích phiêu lưu và thành công chói lọi của mình.

Và nhiều ngày trôi qua như thế. Bởi vì không thể đi chơi nhiều nơi cùng hoàng tử, công chúa nghĩ ra đủ thứ chuyện thú vị và dí dỏm để nói với chàng. Nhưng kỳ lạ thay, càng nhiều trí tuệ nàng bộc lộ ra trong cuộc trò chuyện, chàng hoàng tử càng có vẻ bớt tươi cười.

Một ngày, sau một câu nhận xét đặc biệt khôn ngoan của công chúa, hoàng tử không kìm được đột ngột nói: “Chẳng nhẽ không ai nói với nàng rằng phụ nữ chỉ để ngắm chứ không phải để nghe hay sao?

Công chúa nín thinh, trong lòng đầy suy tư. Dường như hoàng tử không chỉ không thích chiều cao của nàng, mà cũng không ưa khả năng nói chuyện thông minh của nàng nữa.

Ngày hôm sau, khi hoàng tử bước vào phòng nàng chàng thấy quần thần và người hầu đang quây quanh giường. “Có chuyện gì vậy?“-chàng hỏi. Họ đáp rằng công chúa đã trở nên bị câm và mọi cách chữa trị họ thử đều vô hiệu. Hoàng tử nắm lấy tay nàng và nói với giọng ân cần, và người ta mang bút giấy để công chúa có thể đáp lại.

Mọi việc tiến triển tốt đẹp trong vài ngày: công chúa nằm trên giường mỉm cười yêu kiều và hoàng tử một lần nữa có cơ hội kể về những chiến tích khó tin của mình. Nhưng hiển nhiên chàng có những lúc phải xa nàng cho những việc xứng danh một hoàng tử: yến tiệc, săn bắn, và những trò tiêu khiển khác. Hầu hết thời gian đồng hành với nàng vẫn là chú chó.

Một buổi sáng chàng hoàng tử tỏ ra cáu kỉnh khi thấy nàng vuốt ve chú chó:

Ta tin rằng nàng yêu cái thứ đó còn hơn cả ta!” Chàng chực đánh chú chó, nhưng nàng đưa tay ngăn lại. Chàng nhìn nàng, kinh ngạc. “Ta mong nàng hãy sớm đuổi nó đi!“.

Nhưng nó là tất cả những gì thiếp có“, công chúa đáp lại trên giấy.

Giờ chẳng phải nàng đã có ta sao?” Hoàng tử đáp trả. “Ta đang định nói về tiệc cưới, nhưng giờ thì thấy thật phí công.” Nói đoạn, chàng bỏ ra khỏi phòng.

Không ngủ được suốt đêm đó, và khi biết chắc rằng không có ai nghe trộm, công chúa cất tiếng thì thầm với chú chó:

Ta biết sống làm sao nếu không có ngươi đây?

Nàng nên sớm làm quen với điều đó thì hơn. Tôi tưởng tượng hoàng tử muốn món chó nướng cho tiệc cưới sắp tới“.

Công chúa khẽ kêu một tiếng kinh hãi. Chú chó nói giọng an ủi:

Không nhất thiết là nướng thịt, nhưng cách này hay cách khác… Rõ ràng hoàng tử không thích tôi cho lắm“.

Nhưng nếu ta bảo ngươi đi nơi khác, thì có nghĩa ta sẽ từ bỏ mọi thứ cho chàng ta, trong khi chàng ta không phải từ bỏ một thứ gì.”

Đôi khi,” chú chó nói, “người ta phải từ bỏ mọi thứ vì tình yêu“. Và khi nói điều này nó vươn chân đặt vào lòng bàn tay công chúa và ngước đôi mắt màu nâu âu yếm nhìn nàng lần cuối. Sau đó nó đổ xuống sàn, không động đậy.

Công chúa ôm chú chó khóc rưng rức hàng giờ, nhận ra mình đã để mất người bạn chân thành duy nhất. Cuối cùng, nàng vươn dậy, đi về phía tủ đồ, lấy ra chiếc váy cưới lấp lánh satin bọc lấy chú chó, bế chú bước ra sảnh lâu đài để tới vườn ngự uyển kế bên. Bấy giờ trời đã sáng, và những vị cận thần cùng người hầu sửng sốt khi thấy nàng có thể bước đi, và lập tức tìm gọi hoàng tử, người lúc này vừa hay quay lại từ buổi săn sớm.

Kìa nàng đang bước đi!” Chàng thốt lên sửng sốt. “Và nàng đang mang bọc đó đi đâu vậy?

Đó là chú chó yêu dấu của tôi, và tôi đang chuẩn bị chôn cất nó tử tế“, công chúa đáp.

Nhưng đó là váy cưới của nàng, mà kìa, nàng nói được kìa!” hoàng tử nói, càng kinh ngạc gấp bội.

Phải, tôi nói được và để tôi nói với anh hai điều. Một, sinh vật tận tụy này đã chết để bớt cho tôi nỗi đau. Nó chưa bao giờ đòi hỏi thứ gì từ tôi và nó yêu tôi vì con người thật của tôi. Hai, good-bye. Tôi hy vọng không bao giờ nhìn thấy mặt anh nữa.

Nói vậy, nàng đem con chó đáng thương ra vườn ngự uyển và bảo người làm vườn đào một cái hố cẩn thận cho nó. Nàng tự tay mình lấp mộ, rồi cắm lên trên một bông hồng trắng.

Khi quay lại, nàng gặp hoàng hậu, người dịu dàng trách nàng:

Đứa trẻ nghịch ngợm của ta, con đã làm mọi thứ rối tung hết cả. Chúng ta có những mối liên minh và hiệp ước cần phải lo lắng tới, và là một công chúa con có nghĩa vụ phải…

Con không có nghĩa vụ phải hy sinh mọi thứ“, công chúa ngắt lời. “Mà con có những nghĩa vụ khác: một công chúa thì phải nói ra những điều mình nghĩ. Cô ta phải đứng trên đôi chân của chính mình. Cô ta phải đứng ngẩng cao đầu. Và cô ta không được phản bội những ai yêu mến cô ta.” Hoàng hậu không đáp, có vẻ như suy nghĩ về lời công chúa nói.

Đêm đó, nhớ hơi ấm của chú chó, nàng bước ra thăm nấm mộ ngoài vườn thượng uyển trong bóng tối bao la. Bỗng nàng nghe thấy một tiếng leng keng ở đằng xa, từ phía cửa lâu đài một chàng kỵ sĩ thong thả cưỡi ngựa tới tỏ ý muốn xin vào.

Khi đến gần, nhìn thấy dáng vẻ đường hoàng của chàng kỵ sĩ, nàng không sợ hãi mà mở cửa cho chàng. Chàng kỵ sĩ có vẻ như một hoàng tử, có mái tóc mượt vàng óng và khuôn mặt thanh tú, với huy hiệu trên giáp và khiên là một bông hồng trắng. Công chúa mỉm cười hỏi:

Người từ đâu tới đây?

Thực tình, ta cũng không biết“, vị hoàng tử lạ mặt bối rối. “Tất cả những gì mà ta nhớ được là một hành trình dài dòng trên một con đường tối mờ dài thăm thẳm“.

Chàng nhảy xuống ngựa và lập tức cúi người xuống để hôn tay nàng. Trong lúc vị hoàng tử sửa soạn dứng dậy, công chúa nín thở, thầm nhẩm trong đầu một lời cầu nguyện bé nhỏ. Nhưng lời cầu khấn ấy không được đáp lại: khi đứng thẳng hoàng tử vẫn thấp hơn nàng vài phân.

Thật là một vinh hạnh ngước nhìn lên một thiếu nữ xinh đẹp và kiêu hãnh dường này“, chàng nói, cặp mắt màu nâu âm yếm nhìn nàng. Công chúa đỏ ửng mặt.

Chúng ta vẫn nắm tay nhau…“, nàng nói, và lập tức nhận ra sự vụng về trong câu nói của mình. Hoàng tử mỉm cười, và vẫn nắm tay nàng, họ cùng bước vào trong lâu đài.

Không xa, từ trong bóng tối pháp sư ngắm nhìn cặp đôi bằng ánh mắt hiền từ. Khi họ đi khuất, ông quay sang con mèo đang đứng bên chân:

Thế đó, đôi khi người ta phải hy sinh cho tình yêu“, ông thở dài.

Mặt khác“, con mèo cất tiếng đáp lại, “đôi khi người ta phải biết từ chối hy sinh“.

HẾT.

(Source: The History of European Fairy Tales, by Sarah Brown, McMillan, 1992)

Note từ một bàn phím ở xa quê hương, hay Một cái nhìn về tâm lý du học sinh

Từ nhiều năm nay tôi thích nghĩ rằng mình đã phát triển nhận thức đến độ mình không còn dân tộc chủ nghĩa, không còn yêu nước (theo cái nghĩa yêu nước bao gồm “tự hào dân tộc” và vân vân. Xem bài viết Lịch sử như một huyền thoại về quan điểm trong chủ đề này). Nhưng nay có chuyện xảy ra mới thấy rằng tôi không thể bình thản được, rằng tôi có tu nhưng tu chưa trót. Sự việc trên biển Đông và ở trong nước vẫn còn tiếp diễn và không biết đi đến đâu, bài viết ngắn này là một nhận xét từ góc độ tâm lý về cách du học sinh người Việt ở Đài Loan phản ứng với sự kiện, xuất phát từ cảm nghĩ sáng nay đọc các status trên Facebook.

Đặc trưng tâm lý của du học sinh và kiều dân Việt Nam ở Đài Loan, Trung Quốc vào lúc này là họ chịu hai áp lực. Một là áp lực chứng minh mình yêu nước với những bạn bè ở quê nhà, Việt Nam đang bị Trung Quốc bắt nạt mà mình lại đang học tập, làm việc trên đất “giặc”. Hai là áp lực chứng minh mình ủng hộ hữu hảo dân tộc, “vô can” với những hành động bạo lực ở Việt Nam đang chiếu trên truyền hình. Thầm kín hơn hầu hết trong lòng họ có mâu thuẫn giữa mối căm ghét ít nhiều với Trung Quốc mà nhiều người Tây đánh giá là “đã ăn vào máu” của người Việt với nỗi lo sợ sự ổn định cuộc sống, việc làm ở nước sở tại bị đe dọa.

Người Việt ở Đài Loan có một nét tương đối đặc thù. Sống ở một đất nước giàu có, văn minh và người dân Đài hiền hòa, họ cảm thấy bị tổn thương khi bị người Việt ở quê nhà xưa nay đánh đồng Đài Loan với Trung Quốc, và tìm mọi cơ hội chứng tỏ rằng thành kiến đó là sai, để bảo vệ sự tự tôn bị sứt mẻ của mình. Sự việc đang xảy ra ở Bình Dương khiến các bạn du học sinh càng cần phải dõng dạc hơn nữa khẳng định Đài Loan không phải Trung Quốc, rằng người Đài Loan cũng ghét người Trung Quốc như Việt Nam mình, và do đó lên án hành động phá hoại, đánh người của công nhân là ngu dốt. Một vài bạn đi xa hơn nữa khi cho rằng trong khi các bạn ấy đang ra sức quảng bá cho hình ảnh Việt Nam ở Đài Loan, công sức ấy đã bị những người công nhân đổ xuống sông xuống biển! Trước làn sóng chống Trung Quốc đang dâng cao mà ban đầu dường như được chính quyền bật đèn xanh, một số du học sinh trong lúc chờ một cuộc biểu tình chống Trung Quốc đại lục ở Đài Loan (vâng, đại lục chứ không phải Đài Loan) bày tỏ lòng căm phẫn bằng việc bài bác du học sinh Trung Quốc đại lục, những người học chung trường và/hoặc sống cùng ký túc với họ. Mặc dù có một hạt nhân lý lẽ nhất định nào đó, những phát ngôn/hành động như vậy phản ánh một khoảng cách lớn trong nhận thức của họ với thực tế.

Các bạn không biết hoặc cố quên đi một sự thật rằng, chính quyền Đài Loan đang chiếm giữ đảo Ba Bình, đảo lớn nhất ở Trường Sa, xây căn cứ, sân bay. Trong trận hải chiến năm 1988 mà 64 lính hải quân Việt Nam tử trận ở Trường Sa khi bị Trung Quốc đánh úp, quân đồn trú Đài Loan trên đảo Ba Bình đã tiếp tế lương thực, nước ngọt cho quân Trung Quốc. Nhiều bằng chứng khác cho thấy chính quyền Đài Loan trước giờ vẫn thường ủng hộ Trung Quốc trong các tranh chấp biển đảo ở biển Đông, tuy nhiên hiếm khi họ lớn tiếng công khai vì mối quan hệ phức tạp Mỹ-Trung-Đài. Đúng là Đài Loan không phải một phần của Trung Quốc, nhưng không có nghĩa là họ không chia sẻ quan điểm với Trung Quốc trong một số khía cạnh.

Và đúng là (đa số) người Đài Loan có thể ghét người Trung Quốc, nhưng không có nghĩa là tất cả họ ủng hộ Việt Nam hoặc họ vô tư, trung lập trong vấn đề Biển Đông. Tại sao? Bởi vì thời nào, nơi nào, người ta cũng chịu ảnh hưởng của tuyên truyền của nhà cầm quyền. Mà nội dung chính của hầu như mọi hệ thống tuyên truyền nhà nước là chủ nghĩa dân tộc (họ thích gọi là “tinh thần yêu nước” hơn). Người Đài có thể văn minh, học vấn cao, nhưng rốt cuộc thì họ cũng dân tộc chủ nghĩa như ai. Mấy hôm nay tôi tranh luận trên website của The Guardian, CNN, The New York Time với không ít những bạn Đài Loan hăng hái bảo vệ cho cái các bạn gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Hoa tại biển Đông với giọng đầy tự tin rằng mình “vô tư, khách quan” trong vấn đề này. Đầu tuần một giáo sư khoa Hóa, có tiếng trong giới hàn lâm, là ủy viên hội đồng chức danh giáo sư của Đài Loan và là một người hay tán chuyện, mở đầu buổi dạy đã nhắc đến chuyện giàn khoan 981, đương nhiên ông cũng lại nói rằng Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc “since ancient times” – từ thời cổ đại! (khi tôi phản đối đòi tranh luận thì ông lảng sang chuyện khác).

Việc lên án công nhân ở Việt Nam phá hoại hình ảnh tốt đẹp về Việt Nam mà người Việt ở Đài Loan đang cố xây dựng là một nỗ lực để cảm thấy tốt đẹp hơn về bản thân, tách mình ra kiểu “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Đây cũng chính là tâm lý của nhiều người khi nhắc đến chuyện người Việt ăn trộm đồ, bị khinh thường ở nước ngoài ra sao… TS Đặng Hoàng Giang đã có một bài phân tích rất hay về điều này trên Tuần Việt Nam. Một mặt, nói cho đúng thì liệu du học sinh Việt Nam đã quảng bá được hình ảnh được bao nhiêu, hay là không đủ để bù lại ấn tượng từ cách hành xử không phải lúc nào cũng văn minh lịch sự của mình trong mắt người bản địa? Phải chăng chỉ có một số ít lao động xuất khẩu người Việt trốn xưởng, ăn cắp, trộm chó cảnh ăn thịt,…, còn chúng ta và bạn xung quanh ta đã cư xử mẫu mực rồi? Khi đọc đến dòng này, có lẽ nhiều người lại thầm nghĩ như dân làng Vũ Đại của Nam Cao, “chắc nó chừa mình ra” 🙂 hoặc bức xúc vì mình đâu có thế. Mặt khác, có thể là bạn cư xử văn minh và không có điều gì đáng chê trách hết thật, nhưng hãy xem lên án người công nhân có vội vã không. Bạn may mắn được học hành tử tế và có nhận thức cao, sống trong môi trường được người khác tôn trọng. Những người công nhân ở Bình Dương và các khu công nghiệp, chế xuất khác làm cho doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam, họ thiếu thốn vật chất và thường xuyên bị quản lý, chuyên gia người Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc khinh thường, ngược đãi. Công đoàn không có hoặc làm cảnh, khi họ “tự phát” bãi công phản kháng thì chính quyền Việt Nam thường làm ngơ, dung túng cho công ty nước ngoài bóc lột, đàn áp họ. Điều đó là có thật, và vô thức dồn nén bị kích thích dễ bùng nổ thành hành động thiếu lý trí. Ở Đài Loan thì tôi không biết chuyện ngược đãi công nhân Việt có không, nhưng phần lớn họ ít học, đời sống tinh thần hết sức nghèo nàn, trên vai ai cũng mang khoản nợ vay để nộp cho công ty môi giới trước khi sang đây. Từ vị trí chúng ta mà đòi hỏi họ lịch sự, văn minh là một điều tự huyễn hoặc, nếu không nói là có gì bất nhẫn!

Cuối cùng, tâm lý ghét, bài bác du học sinh người Trung Quốc ở Đài Loan của một vài bạn là một biểu hiện của đầu óc dân tộc hẹp hòi, khiến phải đặt câu hỏi về chuyện nhận thức các bạn ấy có hơn các bạn công nhân Bình Dương bao nhiêu. Du học sinh Trung Quốc là những người chịu thiệt thòi nhất trong cộng đồng sinh viên quốc tế ở Đài Loan, không có học bổng, bị cấm đoán làm thêm, và nhất là người Đài hoặc ngờ họ gián điệp hoặc khá hơn một chút khinh họ như những người họ hàng nghèo ở quê lên ăn nhờ. Họ đã làm gì các bạn để các bạn ghét họ, hay là lập luận kiểu “mình ghét nó bởi vì nó ghét mình”? Nếu quả thật họ có đầu óc dân tộc và ghét Việt Nam, thế có nghĩa họ cũng là nạn nhân của bộ máy tuyên truyền của chính quyền cộng sản Trung Quốc, không khác gì lắm cảnh ngộ chúng ta. Đừng đem cuộc chiến giữa những kẻ cầm quyền tham lam thành cuộc chiến giữa nhân dân với nhân dân.

Bạn cùng phòng tôi là một người Trung Quốc, từng là giảng viên đại học và đang học PhD ngành kiến trúc. Anh là một người rất thân thiện và cấp tiến, phản đối chính quyền cộng sản Trung Quốc và mong muốn một Trung Quốc dân chủ hơn, nhân văn hơn, được thế giới tôn trọng chứ không phải sợ/ghét. Nói chuyện với anh tôi hiểu rõ thêm những vấn nạn mà xã hội Trung Quốc đang gặp phải rất tương đồng với Việt Nam. Tuy không hiểu nhiều về lịch sử tranh chấp biển Đông (thực ra đối với Trung Quốc biển Đông chỉ là một trong số một loạt vấn đề lãnh thổ, lãnh hải với nhiều quốc gia khác nhau), anh đủ tỉnh táo để thấy những động cơ chính trị,  kinh tế, chiến tranh đảng phái của Trung Quốc trong việc thúc đẩy tuyên bố chủ quyền tại các vùng biển tranh chấp. Hy vọng một ngày tình hữu nghị giữa hai dân tộc không phải trát lớp sơn thiếp vàng nào mà là một sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau thực sự.

Đài Nam, 14.5.14

Năm cuối

Chẳng hay xuân còn, hạ tới?
Luân phiên mưa, nắng phập phồng
Ngập ngừng, bàng thay lá mới
Lòng bồi hồi tiếc lẫn mong

Năm cuối, thấy thèm đi học
Giảng đường giờ khóa dưới ngồi
Thấy thèm lê la quán cóc
Bạn bè mỗi đứa một nơi.

Ai gieo nỗi buồn da diết
Vào trong đôi mắt nghiêng chiều
Hành lang dài rồi cũng hết
Đi qua một chút thương yêu…

20 mars 2012

Donna Donna

Trong ngôi nhà rộng ngày nào
Một cậu bé sống trong toàn niềm hoan lạc
Mà sâu trong tim vẫn hoài mơ
Thành một người lớn lao
Mỗi tối cậu lại nghĩ điều đó
Khi mẹ cậu cất lời ru

Donna Donna Donna Donna
Rồi con sẽ nuối tiếc cái thời
Donna Donna Donna Donna
Khi còn là một đứa trẻ

Rồi cậu lớn, rồi cậu ra đi
Và cậu khám phá cuộc đời
Những mối tình thất bại, cái đói và nỗi sợ
Và thường xuyên trong lòng
Cậu gặp lại tuổi thơ mình
Mơ về ngày cũ
Buồn bã nghĩ về nó
Và hồi tưởng

Donna Donna Donna Donna
Rồi con sẽ nuối tiếc cái thời
Donna Donna Donna Donna
Khi còn là một đứa trẻ

Đôi khi tôi nhớ lại cậu bé
Một cậu bé xưa tôi từng là…

Lịch sử như một huyền thoại

Note nhân dịp đăng lại lên WordPress (9/4/2014):
My Opera đóng cửa, nhân lúc di dời blog cá nhân sang địa chỉ mới tôi có đọc lại bài này, thấy nhiều đoạn gượng và không còn phù hợp với nhận thức của tôi và bối cảnh hiện tại nữa. Nhưng bài quá dài lười chỉnh sửa thêm, vậy xin để nguyên coi như là lưu lại suy nghĩ của mình thời đại học.

Lời nói đầu nhân dịp sửa chữa (8/2011):
Bài viết này được viết tháng 6/2010 trong những ngày nghỉ hè đằng đẵng ở Yên Bái và đầu tiên được đăng trên blog Y!360 plus dưới tựa đề “Một cái nhìn từ góc độ tâm lý học về sự ‘làm lại’ lịch sử”. Bị giằng co bởi ý tưởng ban đầu về một cái gì dễ dãi, vui nhộn dành cho bạn bè và một cái gì nghiêm túc dành cho bản thân và những người quan tâm đến, món cocktail làm người viết ra thấy thất vọng ngay sau khi được đăng, tuy nhiên chỉ đến giờ mới có dịp để sửa.

  • Dẫn nhập
  • Tiểu luận này chủ yếu nhằm chống lại cách nhìn quy nạp và giản lược hóa các thực thể lịch sử. Thật tình, lịch sử, với tư cách một đối tượng nghiên cứu, thể hiện một cách không toàn vẹn và do đó người ta buộc phải sử dụng phương pháp quy nạp. Tuy nhiên quy nạp có những hạn chế cố hữu và đáng buồn là đã từ lâu và rất thường xuyên người ta lờ đi những hạn chế đó và thay vì dùng quy nạp như một công cụ hữu ích nhưng đồng thời khả nghi, người ta đã lấy nó để xây dựng thế giới quan lịch sử cho mình. Một vài biểu hiện quan trọng của khuynh hướng này là nỗ lực tìm ra các quy luật lịch sử tuyệt đối và tất yếu, hay diễn giải lịch sử như cuộc đấu tranh của các thực thể trừu tượng như dân tộc, giai cấp, ý thức hệ. Hầu hết các phân tích trong bài là kết quả của sự ngẫm nghĩ đơn độc và thiếu sự tham khảo những người hiểu biết hơn, nên hẳn câu từ nhiều chỗ lủng củng. Những gì tôi được đọc thì ít và rất lộn xộn, dấu vết của chúng rải rác khắp tiểu luận khiến cho việc lập một mục lục chú thích trở nên phiền toái.

    Lịch sử, trái với mong muốn của những nhà quy nạp, biểu hiện trước hết như một chuỗi vô cùng tận những hành động cá nhân trong không thời gian, những hành động được thúc đẩy bởi vô số những động lực cá nhân cụ thể và hoàn cảnh riêng biệt. Bất kỳ ai kể cả sử gia cũng không ở ngoài hoàn cảnh lịch sử quy định anh ta, chi phối cách nhìn nhận lịch sử của anh ta, và do đó không có cách nào tìm ra được những quy luật lịch sử khách quan được.

    Tâm thức là một lĩnh vực còn quá mới mẻ đối với khoa học, ngành tâm lý học còn rất nhiều điều để khám phá ở phía trước và những thành tựu khiêm tốn hiện nay khiến cho những người hoài nghi (kể cả tôi) ngờ rằng nó chẳng dẫn đến đâu cả, tựa như môn vật lý hiện đại, vốn xuất phát từ niềm tin duy vật, đang đi tới chỗ siêu hình vậy. Việc nghiên cứu tâm lý học từng cá nhân để hiểu lịch sử rõ ràng là bất khả, hầu như nực cười.

    Tuy vậy, nếu có tồn tại những quy luật tâm lý và chúng có thể tìm được thông qua nghiên cứu, kẻ viết bài này vẫn mạo muội nghĩ rằng ở bất cứ mức độ nào có thể, khía cạnh tâm lý luôn cần phải để tâm trong việc giải thích lịch sử. Nói cho đúng hơn thì bất kỳ giải thích nào về lịch sử cũng đều không khách quan, và tốt hơn người ta nên “nhịn” giải thích mà chỉ dừng lại ở mô tả lịch sử thôi, nhưng chẳng thể có một sự mô tả thuần túy nào mà không hàm chứa một diễn giải cả. Sự khái quát hóa cần phải bị hoài nghi, nếu không sẽ là nguy hiểm, như những gì bài viết này cố gắng chỉ ra.

    Thật vậy, những người cầm quyền(tôn giáo và nhà nước) không ngừng tìm cách diễn giải lịch sử theo cách có lợi cho họ, và ở đó quy nạp luôn được sử dụng. Lịch sử được diễn giải đó không còn là một lịch sử nguyên nghĩa mà đúng hơn là một huyền thoại lịch sử. Huyền thoại này được sử dụng làm công cụ cai trị dân chúng.

    Chẳng hạn, Cựu Ước phần nào là một cuốn sách lịch sử, khi Nhà Thờ nói rằng Kinh Thánh không thể sai lầm thì nó đã tuyên bố đó là lịch sử đúng đắn duy nhất rồi. Các tôn giáo khác cũng có những huyền thoại của riêng họ, đại để trung tâm thế giới nằm ở địa bàn của tôn giáo ấy và con người đầu tiên sinh ra ở dân tộc khởi nguồn tôn giáo ấy. Freud – cha đẻ phân tâm học và tác giả cuốn “Vật tổ và cấm kỵ” – hiến cho chúng ta một câu chuyện ly kỳ về nguồn gốc của huyền thoại tôn giáo, dù vậy không kiểm chứng được.

    Tuy nhiên, chủ yếu tôi muốn nhắc đền những huyền thoại lịch sử về tính thống nhất quốc gia và khái niệm truyền thống dân tộc mà các chính quyền thế tục tìm cách dựng lên và ăn rất sâu vào tinh thần nhân dân ở nhiều thời đại và khu vực. Theo tôi, huyền thoại về dân tộc dựa trên nguồn gốc tâm lý là sự chuyển hóa một phần cái Tôi của mỗi cá nhân thành lòng tự tôn tập thể. Sự chuyển dịch này là phổ biến. Thực vậy, niềm tự tôn của người Việt Nam chuyển hoá vào đội tuyển bóng đá nam Việt Nam biến họ thành những anh hùng dân tộc trong trận thắng Thái Lan, mặc dù chúng ta thừa biết hầu hết (hay tất cả?) các anh hùng đó ngoài đời là những tay hạnh kiểm đầy bê bối và thậm chí dốt nát. Niềm tự hào của những người dân nghèo Bhutan chuyển hoá vào vị vua của họ khi ông vua này, mình đầy trang sức lấp lánh, duyệt binh trên lễ đài, dù nếu ngẫm một chút có thể thấy nguồn gốc của những châu báu kia cũng là nguyên nhân sự bần cùng của họ. Vân vân và vân vân. Nhưng có lẽ các chính quyền mới là cái thể chế thể hiện thường xuyên nhất nhu cầu tự tôn tập thể của con người, và thực ra sự tồn tại của chúng chính là nhờ vào nhu cầu ấy. Chính quyền có thể tham nhũng, có thể tàn bạo, nó vẫn sống được chừng nào nó còn chứng tỏ được rằng nó đại diện cho quốc gia – một khái niệm trừu tượng mà người ta thích hình dung bằng các đường biên giới, thực ra chỉ là một thực thể vĩ đại của lòng tự tôn tập thể. Vai trò đó phải thường xuyên được tái khẳng định, nếu không, niềm tin sẽ sớm biến mất và lúc đó chính quyền chỉ còn cách sự sụp đổ 15 cm mà thôi.

    Niềm tin ấy chỉ vững chắc tuyệt đối khi toàn bộ người dân bị ru ngủ, không còn một cá nhân nào suy nghĩ độc lập nữa. Cách đây hơn 2500 năm, triết gia Hy Lạp Platon đã đề xuất một mô hình như vậy trong cuốn Cộng hoà. Ông cho rằng một nhà nước lý tưởng phải thủ tiêu mọi tư tưởng chống đối, bất tuân lệnh của các cá nhân, trước hết bằng cách bịa ra một huyền thoại về quyền lực và tính sáng suốt tuyệt đối của những người cầm quyền, rồi làm cho người dân tin vào huyền thoại đó. Dĩ nhiên, muốn thế thì phải làm nhiều điều mạnh tay, gồm cả việc kết liễu cả tự do tri thức lẫn nghệ thuật, và Platon kêu gọi đốt tất cả sách vở. Tất nhiên Platon chỉ là một triết gia, ông ta không thể đốt sách của tất cả mọi người mà chỉ có thể …. viết sách mà thôi. Nhưng một hoàng đế phương Đông, Tần Thủy Hoàng đã áp dụng nó. Sau khi thống nhất Trung Hoa, ông ta quyết định chôn sống các nhà nho và đem huỷ tất cả sách vở trong toàn “thiên hạ” , nhưng giữ lại mỗi cuốn sách một bản ở kinh thành (một phong trào nông dân đã lật đổ nhà Tần, và cung điện bị đốt cháy rụi bởi những kẻ vô học hơn cả vị bạo chúa kia. Người ta không biết được sau đám cháy, còn sót lại mấy trăm, mấy chục, hay một quyển sách nào không. Thế mà thời Hán, vô vàn các cuốn sách xuất hiện nhan nhản, nói rằng mình chép lại “cổ thư”. Mỉa mai thay, nền văn minh Trung Hoa tới tận ngày nay vẫn được coi như bắt nguồn từ những tư tưởng nằm trong những cuốn sách ở cung nhà Tần năm nào…). Trong lịch sử còn rất nhiều cuộc đốt sách, phá huỷ các công trình văn hoá một cách có ý thức và có hệ thống khác, tất cả đều là những thảm hoạ cho nền văn minh trong khi rút cục không đạt được kết quả toàn vẹn như những người thực hiện chúng mong muốn.

    Những sự huỷ diệt đó không phải chỉ có ở những thời đại cổ sơ, mà các chế độ Hitler và Stalin đã cho thấy rằng chúng ta chưa “văn minh” lắm đâu. Tuy nhiên song song với chúng còn có một cách thức khác, mà thực ra lặp lại gần như y nguyên chủ trương của Platon, chỉ là mềm mỏng và kín đáo hơn. Chính quyền trước hết tạo ra một huyền thoại về chính nó, trong đó khẳng định rằng nó xứng đáng đại diện cho các lợi ích dân tộc. Để dễ được chấp nhận, huyền thoại này phải được khoác cho một bộ cánh “khách quan”, “khoa học”, trong đó, sử học đóng một vai trò chủ chốt. Chính quyền tìm cách kiểm soát trực tiếp lẫn ngấm ngầm hoạt động nghiên cứu và giáo dục lịch sử. Thay vì đốt sách và giết chóc, chính quyền áp dụng những biện pháp mềm dẻo hơn, tinh vi hơn đối với những ai đi ra ngoài “quỹ đạo”, phản đối huyền thoại ấy, mà đơn giản nhất là ngăn cản tiếng nói của người ấy đến với quần chúng, hoặc chỉ đến được sau khi bị chụp mũ là phản động và bôi nhọ theo đủ cách. Có thể nói, cách thức này khá hiệu quả hơn so với việc cấm đoán tư tưởng, và nó ngày càng thông dụng trong mấy thế kỷ gần đây. Tuy nhiên ta cũng thấy rằng nó không hoàn hảo: nó không trừ diệt hoàn toàn mầm mống phản kháng, trái lại chính quyền phải thường xuyên căng thẳng trong việc đề phòng và ngăn chặn những chống đối mới lan rộng ra, hệ quả là bộ máy của nó (cảnh sát, kiểm duyệt, …) cứ phình to ra mãi, rút cục nếu không bị đè bẹp bởi sức nặng của chính mình thì sự nặng nề đó cũng khiến nó khó khăn trong việc đối phó với những thách thức khác. Tuy vậy, ta hãy tưởng tượng cả thế giới có một chính quyền duy nhất, chính quyền chỉ có mỗi vấn đề phải đối phó là duy trì cái huyền thoại kia thôi, thế thì nó gần như sẽ bất tử (dĩ nhiên, trừ khi siêu thiên thạch rơi xuống Trái Đất). Một viễn cảnh như vậy đã được Georges Orwell cảnh báo trong cuốn “1984”. Rất may là ta chưa chứng kiến một tình trạng như thế, và các chính quyền thì hưng rồi lại suy nối tiếp nhau, dù lúc đầu chính quyền nào cũng muốn gây cho dân chúng một ấn tượng là nó sẽ bất tử…

    Tiếp theo đây, tôi sẽ vận dụng diễn giải trên vào trường hợp Việt Nam hiện nay. Xin đừng nghĩ là tôi đặc biệt ác cảm với chính quyền hiện tại ở Việt Nam, đơn giản là tôi không đủ kiến thức lẫn thời gian để xét tất cả các chính quyền trên thế giới, và thậm chí không đủ để xét các chính quyền Việt Nam theo chiều dài lịch sử. Vả lại, thiết tưởng chỉ hạn chế ở bấy nhiêu thôi cũng dễ tiếp cận hơn với các bạn, những người đang đọc những dòng buồn tẻ này.

    Xin dừng lại một chút, bởi vì chúng ta đã bước qua chỗ lý thuyết suông nơi có thể tán hươu tán vượn tùy ý, từ đây tôi buộc phải đưa ra những dẫn chứng và phân tích cụ thể. Tôi đứng trước một vấn đề gay go, đó là nếu lịch sử luôn bị che mờ một cách chủ ý thì lấy đâu ra một thứ lịch sử đúng-như-sự-thật? Nếu không có thứ lịch sử đúng đắn ấy, anh lấy gì để so sánh mà tuyên bố rằng lịch sử chính thống hiện tại là sai lầm, là giả tạo? Thật vậy, lịch sử, đó là một câu chuyện; hay bằng tiếng Pháp: L’histoire, c’est une histoire (Đã ai chơi chữ vậy chưa? Do đọc ít nên tôi không biết nữa). Hiển nhiên, tôi cũng không có thứ lịch sử trong suốt, không sai lệch kia. Vì lẽ đó, hẳn tôi nên chán ngán vì sự bất toàn của tri thức nói chung và sự ngu dốt nói riêng của mình. Nhưng rốt cuộc nghĩ lại thì bài viết này hay hình như tất cả những cái gì tôi viết ra, tôi coi như một trò chơi ngôn từ mà thôi. Cốt yếu là ở sự thú vị, nếu không thể có chân lý tuyệt đối. Cố gắng nghiêm túc và trung thực đến mức có thể, đó là luật chơi; nhưng lại mong sự chính xác tuyệt đối, đó là ảo tưởng. Vậy trong những dòng tiếp theo đây, tôi sẽ tiến hành phân tích theo một cách đáng chán là dùng những tư liệu mà tôi cho là “đáng tin cậy”, chẳng hạn thời Lê – Mạc về trước chủ yếu tôi sẽ tham khảo Đại Việt sử ký toàn thư. Riêng với lịch sử hiện đại, khó khăn tìm tư liệu càng lớn hơn, một đôi chỗ tôi phải dựa vào phán đoán chủ quan của mình. Tôi cũng xin hứa là sẽ đặt lại vấn đề tính chân thực của lịch sử nói chung ở phần cuối bài viết này.

    Nếu đã đồng ý như vậy rồi, chúng ta hãy quay lại nhiệm vụ dở dang vừa đề xuất. Vậy hiện nay, huyền thoại mà chính quyền muốn duy trì là gì? Tôi xin tóm tắt như sau: Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời, văn hóa phong phú, nhân dân có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, hơn nữa lại cần cù, dũng cảm, thông minh,…. Tuy nhiên như những người mù dò dầm bước đi, nhân dân luôn chịu lầm than áp bức, mà đau thương nhất là hơn 80 năm trời nô lệ Pháp – Nhật. May thay, có một ánh sáng chói ngời phía trời Tây do Marx – Lenin thắp lên và được Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh – người mà đúng như tên gọi , là vô cùng yêu nước (ái quốc), suốt đời vì nước vì dân, hơn nữa lại hết sức sáng suốt (chí minh), bậc Đại Trí – Đại Nhân – Đại Dũng, vĩ đại mà lại giản dị, người Cha, người Bác của dân tộc – tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo Cách mạng tháng Tám vĩ đại và hai cuộc kháng chiến lừng lẫy năm châu giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Bác đã qua đời, nhưng tư tưởng Người còn để lại, và những người học trò trung thành và xuất sắc của Người tiếp tục đưa dân tộc vượt gian lao, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy trước mắt đất nước còn nhiều khó khăn và trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Marx-Lenin vào thực tiễn còn có những vướng mắc, đôi khi Đảng mắc vài sai lầm nhỏ nhặt, nhưng đường lối mà Đảng dẫn chúng ta đi là tuyệt đối đúng đắn. Việt Nam tuy nghèo nhưng thực sự độc lập, người dân có quyền làm chủ và dù thế nào vẫn còn hơn vạn lần bọn tư bản sống không có tình người và lúc nào cũng lăm le bóc lột, hà hiếp người khác. Hơn thế, trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, lòng tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao…. (Vỗ tay cái nào!)

    Như ta thấy trong huyền thoại trên quá khứ (hay lịch sử) đóng một vai trò chủ chốt, có thể tóm lược bằng hai ý lớn: 1.Việt Nam có một truyền thống chống giặc ngoại xâm lâu đời và 2. Đảng Cộng sản ngày nay đại diện cho truyền thống dân tộc ấy. Nội dung này thể hiện bước lùi đáng kể của các huyền thoại chính quyền hiện đại nói chung so với huyền thoại chính quyền của Platon: trong khi Platon chủ trương hủy diệt chủ nghĩa cá nhân và sáp nhập một cách cưỡng bức vào sự sùng bái thần linh mà chính quyền chính là hiện thân thì các chính quyền hiện đại mơn trớn lòng tự hào tập thể và thuyết phục người dân tin nó là hình ảnh đại diện cho lòng tự hào đó. Phục vụ cho huyền thoại ấy là một bộ máy nghiên cứu, giảng dạy khổng lồ và được tổ chức chặt chẽ. Ở Việt Nam hiện nay, có lẽ hầu như không còn một nhà nghiên cứu lịch sử độc lập nào nữa (trái với các nước ngoài và trái với chính Việt Nam trong quá khứ), tất cả dù còn trong biên chế hay đã nghỉ hưu đều nằm trong một tổ chức gọi là Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Hàng năm người ta đào tạo nhiều nghìn sinh viên ngành sử, phần lớn trở thành giáo viên và một bộ phận bổ sung cho các viện chuyên ngành đang ngày càng phình to ra. Người ta đào tạo cả học vị tiến sĩ, mà do nền sử học không giống ai, các anh tiến sĩ này chả được ai mời đi dự hội thảo quốc tể hay giảng dạy ở nước ngoài cả (cũng không hẳn, nếu ta coi hội thảo hai nước Trung Quốc – Việt Nam cũng gọi là “hội thảo quốc tế” và đứng lớp ở Lào cũng gọi là “giảng dạy ở nước ngoài”).

    Dưới đây tôi sẽ cố giải minh phần nào huyền thoại lịch sử trên, bằng cách chỉ ra một số biểu hiện của nó. Để có thể viết những dòng này tôi thấy rất cảm kích R.Barthes, người mà tác phẩm của ông đã củng cố niềm tin ở tôi rằng có thể có người chia sẻ ít ra là về mặt phương pháp huyền thoại học.

    (nếu chưa chán, cuộn xuống đê xem trang tiếp)

    Tâm cảm

    Nhân đọc lại bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp

    Lũ dế ngâm hoài dạ khúc
    Ánh trăng ghé xuống đầu giường
    Chàng trai còn hoài thao thức
    Trông trăng mà nhớ người thương

    “…….
    Em chẳng biết buồn đâu nhỉ?
    Lúc nào cũng thấy em cười
    Gặp ai cũng đều hớn hở
    Nhìn đâu cũng thấy đẹp tươi.

    “Em đối với ai cũng tốt
    Sao toàn hách dịch với mình?
    Bắt mình đợi dài cả tiếng
    Đến rồi chả thèm thanh minh.

    “Chậu hoa tặng em hôm trước
    Chẳng hay người thích hay không?
    Em có thường xuyên tưới nước
    Hay để khô queo góc phòng?
    ……………. ”

    Sốt ruột, trăng đành lặn mất
    Dế còn chưa ngớt râm ran
    Chàng trai cũng đành nhắm mắt
    Trái tim chưa ngớt xốn xang.

    *

    Ở cách xa vài cây số
    Nàng ngủ quên chẳng tắt đèn
    Tay ngà buông lơi tiểu thuyết
    Nhân vật chính chết, mắt hoen…

    4 juillet 2011

    Sáng sớm

    Tứ phía cao tầng chen mọc
    Gặm dần nham nhở khoảng trời
    Nhưng sớm nay còn thấy nắng
    Mình còn tha thẩn dạo chơi.

    Vườn ai hương chanh phảng phất
    Đường làng lấm tấm hoa xoan
    Chim chích rộn ràng lùm nhãn
    Mèo con im ngủ dưới giàn.

    Đất trời dường như lắng lại
    Cho mình đôi phút miên man
    Nắm tay nhau thong thả bước
    Giữa yên bình lắm không gian

    Nhưng có gì dường như giả
    Có gì như đã mất rồi?
    À phải, em giờ xa lắm
    Chỉ là anh tưởng tượng thôi…

    Đan Phượng,14 mai 2011

    Chiều, ngủ muộn

    Tặng H.Tr, và những người bạn hay than thở của tôi

    Mộng mị nặng nề cất khỏi
    Thấy chơ vơ lạnh trong hồn
    “5 rưỡi sao trời chưa sáng?”
    Khẩy cười, nhận thấy hoàng hôn.

    Thử cọ vào song cửa sổ
    Vẫn là thanh sắt lạnh lùng
    Thử lần vào trong ký ức
    Vẫn là kỷ niệm dửng dưng.

    Miệng khô, hay lòng khô nẻ?
    Chiều tàn, hay tuổi trẻ tàn?
    Ta gào, liệu ai có thấu
    Có ai, trong cả thế gian?

    ……

    Cứ thế khóc cười một lúc
    Bụng sôi, cũng phải dậy thôi,
    Khẩy cười “tuổi xanh chưa hết
    Dù trời sắp tối hẳn rồi”.

    Bà cụ nhà bên đốt lá
    Ngọn lửa lung linh sáng ngời
    Tàn lửa bay trong bóng tối
    Đỏ hồng trước khi tàn rơi…

    23 avril 2011

    Ngẫu hứng

    Tặng M.T

    Dụi mắt, vươn vai, che ngáp
    Hóa ra mới ngủ chút thôi
    Cuốn sách chưa qua trang ‘8’
    Dẹp bên, ngồi ngắm ngoài trời.

    Hoa sưa ngẩn ngơ đi lạc
    Nắng xuân chưa đón đã tàn
    Giữa xôn xao chiều ký túc
    Im hơi bay trong không gian.

    Cô bạn phòng bên thuở trước
    Giờ loay hoay góc trời nào?…
    Ánh chiều lắt lay vô cớ
    Khiến lòng dậy nhịp nôn nao.
    24 mars 2011